II. CARMENIO

Màu nền
Font chữ
Font size
Chiều cao dòng

Nhạc nghe cùng:

---



Cồm cộp, tiếng mũi giày của Ludwig Beilschmidt giậm trên sàn.

- Tình hình ở Munich thế nào rồi, phó tổng giám đốc?

Làu bàu hỏi, gã kiểm tra đồng hồ.

Đã gần 7:00 tối rồi sao!?

- Mọi thứ đều ổn thỏa, tổng giám đốc ạ.- Giọng nói đặc sệt của tuổi xế chiều vang khỏi khuôn cổ của phó tổng giám đốc.- Quả nhiên là con trai của quý Beilschmidt, chưa một tuần nào mà vở Madame Butterfly* trống quá 2,000 một ghế!

- Nghe hay đấy.- Vuốt ve bó hoa quế mới mua, gã gật gù, dẫu biết rằng lão già bên đầu dây phía bên kia sẽ chẳng thấy gã đang gật gật cái đầu của mình trông miễn cưỡng đến nhường nào.- Vậy doanh thu là bao nhiêu? Hình như tổng cộng được 12,840 ghế mà nhỉ?

- Thưa vâng.- Vị phó tổng giám đốc già cả lật qua mớ giấy tờ.- Một vé trung bình €98, vậy nên vị chi một tuần cao nhất kiếm được hơn €1,258,300, đấy là chưa kể tiền loge; còn thấp nhất là €807,000, tức bán được tầm 8,120 ghế.- Nheo nheo mắt, ông dò dẫm mấy con số.- Hầu hết thì bán được €1,030,000. Có ba tuần bán được hết sạch, và có ba tuần bán chỉ được 8,120 ghế, vậy nên, vị chi là-

- Vị chi là €15,465,900.- Nghe tiếng lật giấy chậm chạp đến phát nản của mấy kẻ già lọm khọm, gã nóng vội nhẩm tính trong đầu rồi hét vào điện thoại.- Tại sao cứ không có tôi trực tiếp đứng ra ở vở nào là vở nấy có doanh thu ì ạch vậy!?

Gã cố bình tĩnh hơn bằng cách vuốt mặt. Dù sao đi nữa, kẻ gã đang nói chuyện qua điện thoại cũng từng làm việc cho bố gã; thế nên, cơn giận có phải sôi lên gấp mười, gã cũng không thể tỏ thái độ thiếu chừng mực. Nhỡ đâu cha già mắc toi này làm xấu mặt gã trên truyền thông sau này thì sao?

- Tổng giám đốc bình tĩnh, chúng ta còn loge và-

- Muốn tính thêm loge à?! Được thôi. Được thôi!- Có tiếng gầm gừ, gầm gừ thật lâu, và thật uể oải, vọng ra từ não bộ gã: "Chúa! Có tính thêm tiền loge thì cũng chẳng khiến doanh thu khá hơn là bao", Ludwig nén giận trong cuống họng tức điên đến đắng nghét. Rồi tay người Đức chửi nốt, "Lão già này bị ất ơ à?!", trước khi có thể bình tĩnh hơn mà hạ tông giọng xuống.- Chà, thế đây để tôi tính luôn: một loge thường €1,000, một loge hoàng gia €1,200, mà ở nhà hát đấy có hai loge thường và 2 loge hoàng gia; nếu như tuần nào cũng bán được hết loge thì cũng chỉ thêm được €4,400, vị chi cả mười lăm tuần qua cũng chỉ kiếm xấp xỉ €15,470,300.

Làm ăn kiểu này thì hoạnh họe, khoe khoang được với ai cơ chứ!?

Gã chán lắm rồi!


Từng tiếng thở nặng nề thoát ra khỏi miệng, sau khi nghe thấy sự im lặng chết bầm là lời hồi đáp mà tay phó giám đốc quyết định đáp trả gã, Ludwig cố hỏi tiếp, dẫu biết tình hình sẽ không khá khẩm hơn mấy:

- Vậy còn tiền bán băng đĩa?

Chốc chốc nhìn đồng hồ, chốc chốc xem thời lượng của cuộc đối thoại, kẻ người Đức rủa trong đầu.

Mẹ cha nó chứ!

Tại sao chẳng có chuyện gì xảy đến suôn sẻ với gã vậy!?

- Một đĩa là €20, thuế 19% thì thành €23.8.- Vị phó tổng giám đốc cố nói cho tròn chữ, dẫu ông không ngừng lắp bắp bởi sợ sệt kẻ tay người Munich cấp trên.- Trung bình một tuần ta bán được 100 đĩa trong thị tường nội địa, 150 đĩa ngoài thị trường quốc tế-

- Số lượng đấy là quá ít! Quá ít!- Ludwig cấu mấy đầu ngón tay lên ấn đường. Càng kéo dài cuộc điện thoại này, gã càng điên tiết hơn.- Khỏi lật giấy tờ xem thông số, khỏi bấm máy tính, phó tổng giám đốc ạ, tôi tính luôn đây: doanh số cho 100 đĩa bán tại thị tường nội địa và 150 đĩa bán ra thị trường quốc tế là €5,950.

"Chúa tôi! Chúa tôi!"

Ludwig đứng phắt dậy khỏi ghế, làu bàu trong cáu kỉnh.

- Tôi không biết phó giám đốc hiện có thể bình tĩnh đến đâu nhưng tôi thì không!- Siết tay, gã đấm thùm thụp lên ngực. Gã sắp phát điên rồi!.- €15,470,300 cộng €5,950 thì cũng chỉ là €15,476,250 mà thôi! Còn chưa cả đến €16,000,000!

- Tổng giám đốc-

Vị phó tổng giám đốc

- Bỏ mẹ rồi đấy, phó tổng giám đốc ạ! Doanh thu năm ngoái của vở The Magic Flute* lên tận €30,400,000 đấy!- Ngoài trời bắt đầu tối dần; cái màu đen đúa của đêm buông dập dềnh trên những mảng trời màu đỏ cuối cùng. Ném ánh mắt sôi lửa ra ngoài không gian mê huyễn ấy, kẻ người Đức nói nốt.- Tôi không cần biết phải quảng cáo nhiều thêm bao nhiêu nữa, nhưng vì Chúa, trong vòng 4 tuần tới, làm ơn đẩy cái thông số chết bầm ấy lên cho tôi!

Rồi gã cúp máy, chẳng để tay phó giám đốc thống khổ nọ được ú ớ thêm chữ nào.

Đừng nói là trình bày bằng miệng, có viết văn bản gửi cho gã giờ đây thì cũng vô ích thôi.


Thả phịch cả hồn xác nặng nề lên ghế, gã vừa đau đầu suy nghĩ, vừa lục lọi trong hộc bàn tìm lọ thuốc chống trầm cảm.

- Chậc, quên mất...- Vừa mở nắp lọ, gã vừa lắc đầu nguầy nguậy, tự lầm rầm với chính bản thân.- Chưa kịp hỏi vở Roméo et Juliette* ở Munich và vở La Traviata* ở Vienna mà đã bộp chộp cúp máy.

Ludwig mong mấy tay giám đốc và đạo diễn đang điều hành hai vở nhạc kịch kia tại Munich và Vienna sẽ làm việc êm xuôi hơn cái tay phó tổng giám đốc. Quả thực mà nói, "Ông ta già quá rồi!"; và nếu hết năm nay mà tình hình vẫn còn tệ, gã chắc chắn sẽ tìm cớ để sa thải ông già này. Chắc chắn! Gã sẽ chẳng kiêng nể gì sất, cứ thế mà đào thải thôi!

Rồi mau chóng bỏ thuốc vào miệng, tay tổng giám đốc người Đức kết thúc bằng câu nói nhẹ bẫng nhất mà gã có thể nghĩ đến vào lúc này:

- Thôi thì, thây kệ mẹ nó vậy. Yêu cầu gửi văn bản cho rồi đời.


.


Ludwig Beilschmidt chỉnh lại cà vạt. Gã tự nhủ, "Cũng chưa hơn bảy giờ quá năm phút", rồi hăm hở mỉm cười với chính mình ở trong gương.

Dẫu đầu gã vẫn còn ong ong đau bởi cuộc đối thoại với tay phó tổng giám đốc, song cứ nghĩ đến việc được gặp con gà đẻ trứng vàng, gã lại mừng húm lên.

Đặc biệt là vào cái thời điểm mà doanh thu xuống dốc thế này, thì việc có kịp một con gà có tiềm năng đẻ trứng vàng chính là ưu sách.

"Nếu như không thể cứu vãn được doanh thu của vở Madame Butterfly thì vở Carmen bắt buộc phải gồng gánh mọi sự." - đấy là gã nghĩ như thế.

Ngẫm đi thì cũng phải ngẫm lại, so với những vở kịch opera mà gã từng thầu, Madame Butterfly không phải là vở opera quá nổi tiếng. À thì hiển nhiên, gã không hề phủ nhận về việc các chuyên gia luôn đánh giá cao giá trị nghệ thuật và nhân văn trong vở kịch này; tuy nhiên, đấy là chuyện chuyên môn, mà khán giả thì có mấy người biết suy nghĩ theo lối chuyên môn này. Vốn dĩ ngay từ đầu, con người ta chỉ đi xem opera dựa vào độ nổi tiếng của mấy vở đấy thôi. Mặc dù Ansgar thuở trước nổi lên như cồn là nhờ vở Madame Butterfly này; ừ thì đúng là khi so sánh doanh thu của ngày trước với hiện tại, thì doanh thu hiện tại vẫn cao hơn, nhưng đấy là do tỷ giá tiền tệ có chênh đi sau một thập kỷ dài.


Ngay từ đầu, nhẽ ra gã cũng nên dập tắt cái tư tưởng diễn lại vở Madame Butterfly của tay phó giám đốc. Là cha già đấy đã bảo gã nên diễn lại vở này bởi mười năm trước, Madame Butterfly đã là đôi cánh cho Ansgar được bay cao, bay xa. Nhưng mà đấy là do chính ông già nhà gã tự chỉ đạo, còn lần này là gã chỉ thông qua và gián tiếp ảnh hưởng đến, còn người hoàn toàn chịu trách nhiệm là tay phó giám đốc!

Đúng là ở đời, sớm biết trước đã giàu!

Sẽ không sai nếu nói rằng gã bị ám ảnh quá mức bởi doanh thu, nhưng dẫu sao đi nữa, gã cũng là kẻ làm tiền, chẳng hơi đâu rảnh rỗi mà lại đi quan tâm tới mấy cái chi tiết, mấy cái gọi là "giá trị nghệ thuật".

Thật vặt vãnh!


.


Kiểm tra lại thẻ phòng, gã yên chí, toan đóng cánh cửa lại ở phía sau lưng.

Gã đã vô cùng sẵn sàng trong việc đem thằng nhóc người Ý kia vào đoàn của gã lần này; vậy nên, gã cũng chẳng chần chờ gì mấy nữa trong việc sẽ mời mọc nó ký hợp đồng với gã.

Mà lại nói tới chuyện hợp đồng, gã thấy mình thực thiên tài khi đã chuẩn bị từ tối hôm qua.

Đến tận nửa đêm hôm qua, gã vẫn còn phải chờ người gửi hợp đồng qua fax đến cho gã kia mà.

Ồ, gã không định trở nên thiện lành đến thế!

Gã vốn là gã, và nó thì có vẻ như chỉ là một đứa nhóc ngây thơ mà thôi, vậy nên chẳng dại gì mà gã không lợi dụng sự ngô nghê của nó.

Liếc nhanh đến chiếc nhẫn bạc ở ngón út và chạm đến chiếc nhẫn vàng đeo ở ngón cái, Ludwig tự mừng vui vì sự khôn lỏi của mình. Phải vậy, gã không nhận mình là "xảo trá", nhưng mà là khôn lỏi, khi gã sắp sửa sẽ hái bạc trên mồ hôi của một thằng nhóc chẳng-biết-mình-sẽ-làm-không-công cho một kẻ như gã.

Gã là một thằng chó, chính gã lâu lâu cũng không tránh khỏi việc nghĩ đến chính mình khốn nạn nhường nào, song gã cũng không để tâm mấy.

Để rồi, nhìn xuống tấm thẻ phòng phản chiếu mờ mờ khuôn mặt mình, Ludwig cười khẩy.

"Đời là thế mà", gã tự nhủ trong đầu; và vả lại, tuy là làm hợp đồng giả, thế nhưng quá trình chuẩn bị cũng công phu lắm đấy chứ, cũng rất đáng để tự hào.

Vậy nên, gọi gã thế nào cũng được, tên "thương nhân dơ bẩn" hay "loại rác rưởi hạng ba" như nhiều người từng hợp tác dưới trướng gả hay đồn thổi cũng được, gã kệ tất, bởi vốn dĩ, từ lâu đã chẳng còn cái khái niệm nghệ thuật chân chính nữa rồi.



Trong khi quay cuồng với những suy nghĩ còn khốn nạn hơn cả những gì gã có thể nhận thức vào lúc này, đột ngột, gã thấy nước mắt rơi.

Ướt át.

Nóng hổi.

"Mẹ kiếp...Lại nữa sao...?!"

Ludwig quẹt mắt, trước khi những giọt nước mắt kịp lăn xuống khóe môi gã.

Ướt át.

Nóng hổi.

Gã không thể gặp một thằng nhãi tuổi con tuổi cháu trong khi nước mắt cứ lăn đổ từ khóe mắt không thôi cay lên.

Ướt át.

Nóng hổi.

Ôi! Lại còn mặn nữa!

Gã ghét nhất là vị mặn của nước mắt.


Nước mắt?!

Phải, nước mắt.

Tay tổng giám đốc người Đức có để ý, đặc biệt là một năm đổ lại đây, gã thường xuyên rơi nước mắt. Không vì một lý do nào cả! Không ở trong bất kỳ tình huống đặc biệt nào! Thực quái lạ!

Ludwig từng dùng, và nay cố dừng thuốc chống trầm cảm cũng lâu được nửa năm rồi, nhưng sao gã cứ có cảm giác, việc dừng thuốc này gây ảnh hưởng đến mắt gã.

Gã đoán, việc rơi nước mắt quá nhiều và quá vô lý chỉ là tác dụng phụ của việc dừng thuốc chống trầm cảm mà thôi.


Một tuần trước khi sang Ý, gã có xin thuốc từ bác sĩ quen ở khoa thần kinh, nhưng cũng phải cố lắm gã mới xỏ xin được từ vị bác sĩ khó tính nọ.

Gã nói với tay bác sĩ ấy rằng, gã không muốn rơi nước mắt vô cớ trong khi đang làm ăn, bởi như nếu chuyện ấy xảy đến như thế, gã sẽ trông kì cục lắm.

Vị bác sĩ đó cũng rõ ràng keo kiệt ra trò: lão chỉ đưa gã đúng liều lượng cho năm tháng ở Ý thêm bốn tháng nữa ở Nga mà thôi!

Gã vẫn còn nhớ rõ lời của vị bác sĩ đó, "Bao giờ quay lại Đức thì tính tiếp!"

Hỡi ôi, ai đời đi lưu diễn chưa được năm nước thì phải quay lại quê nhà cơ chứ! Sau Ý và Nga, gã còn lịch trình ở Thụy Sĩ, Pháp, và Hà Lan nữa đấy!

Cũng may cho vị bác sĩ ấy là gã khá quý lão, chưa kể cũng đã quen được một quãng thời gian dài; nếu không, gã đã rủa lão chết lên chết xuống rồi!


...Mà, cũng chẳng phải không đâu mà gã tự dưng bầu bạn với thuốc chống trầm cảm từ năm ba mươi tuổi cho đến nay; thế nhưng, sau quá nhiều biến cố kể từ khi gã kế thừa Tổ Chức Ansgar, đặc biệt là từ biến cố cháy nhà hát và hàng loạt các bài báo về thị phi này tưởng chừng sẽ chôn vùi gã mãi mãi, gã buộc phải uống thuốc chống trầm cảm. Việc gã không phải chịu trách nhiệm về mặt pháp luật là mấy- do đấy chỉ là "tai nạn"- song do gã là kẻ phụ trách, thế nên có bao nhiêu tội, tất đều đổ hết lên đầu gã bởi những lời đồn đại đi đến vùng xa xăm.

Từng ấy ngày tháng qua, ai ai cũng mong gã rơi đài, thế mà, gã vẫn chưa từ bỏ một giây nào để không ngừng ra oai và nâng cao vị trí của mình ở trong giới.


Ludwig Beilschmidt, gã là kẻ sẵn sàng làm mọi thứ để thành công và giàu có. Quyền lực và tiền bạc chưa bao giờ là đủ đối với một kẻ đốn mạt như gã. Vậy nên, ngay sau khi vụ hỏa hoạn xảy đến và việc gần như phải xây dựng danh tiếng của mình lại từ đầu, gã rơi vào bụi gai đau đớn của đời, được gieo mầm bởi cô quạnh, và được nuôi dưỡng bởi những thăng trầm- hay nói thẳng thừng ra, là những căng thẳng đến từ sự cầu toàn và tham lam khốc liệt của chính bản thân mình.

Gã ghét vị mặn và vị đắng, cả vị cay nữa, nhưng gã vẫn cứ nhắm nhắm mũi mà nốc thuốc trầm cảm từ ngày này đến ngày khác, cũng bởi những bụi gai mà gã vô tình trồng lấy.


Nhưng hình như, cũng không phải là không có dấu hiệu cho việc gã sắp sửa vấp vào những bụi gai sầu khổ ấy. Mỗi lần gã âm mưu điều bất chính, gã lại chạm vào chiếc nhẫn vàng ở ngón cái, và mỗi khi gã bất an, gã lại miết lấy màu bạc óng ánh trên chiếc nhẫn mang ở ngón út. Dường như, gã chưa bao giờ từ bỏ bất cứ nhục vọng thế tục nào, và gã cứ vì chúng mà phát điên lên, mà rơi vào trầm cảm.

Gã biết, uống thuốc trở lại như trước giờ không phải là cách điều trị hay ho. Bác sĩ nói với gã, gã phải tìm được nguyên nhân khiến gã bất an. Mà gã thì gã cứ nghĩ mình biết, nhưng thực tế, gã đã chẳng hiểu chính mình vốn lo sợ điều gì.

Nhưng rồi, sẽ được bao nhiêu phần trăm cơ chứ?

Sẽ được bao nhiêu phần trăm gã thôi rơi nước mắt, nếu như có thể tìm được nguyên do khiến gã lấn cấn cho đến tận lúc này? Có chắc chắn chứ?

Và xác suất không rơi nước mắt, liệu sẽ là bao nhiêu, nếu như gã có thể phá vỡ được những bất an đã đeo bám gã cho đến tận tuổi tứ tuần? Có đáng thời gian để cược, để cai thuốc không?


.


Vừa quay trở lại vào bên trong phòng, Ludwig Beilschmidt nghe tiếng điện thoại bàn khách sạn reo lên.

- Có chuyện gì không?

Ngăn tiếng sụt sịt lọt vào ống nghe, tay tổng giám đốc hỏi nhanh gọn.

- Có phải là phòng 121 của quý Ludwig Beilschmidt không ạ?- Viên tiếp tân hỏi.- Như chú dặn tụi cháu hồi sớm nay, thì đúng là có một cậu Feliciano Vargas muốn gặp chú đấy ạ.

- Nó mới đến à?

- Thưa không ạ. Cậu ấy đến từ lúc bảy giờ kém cơ, ngồi chờ ở dưới cũng được một lúc rồi mới dám quầy tiếp tân để hỏi về chú đấy ạ.

- Tôi hiện tại không xuống dưới sảnh được đâu. Làm ơn chóng dẫn nó lên phòng tôi.

- Thưa vâng-

- Nhanh nhanh lên đấy.

- Thưa vâng.


Có chút khấp khởi dậy động nơi bàn tay, ánh mắt, tay tổng giám đốc cúp máy. Rồi vội vội vàng vàng, gã chạy vào trong nhà vệ sinh.

Để thằng nhóc ấy thấy cảnh tượng này thì ô thôi, nhục nhã cho gã quá!

Mở nước, gã lau khắp mặt mày của mình.

Mặt mày Ludwig đỏ gay, và cánh mũi thì không thôi phập phồng. Hiển nhiên, nếu như nó trông gã nức nở đến nhường này, hẳn sẽ cười phá lên. Vuốt lại tóc, chải lại tóc, gã lại lầm rầm quở trách sự hẹp hòi của tay bác sĩ khoa thần kinh nọ.

Rồi tay người Đức lại gấp rút- mà vốn dĩ gã vẫn luôn gấp rút- vơ thêm vài viên thuốc nữa mà bỏ vào miệng. Hốc một miệng thuốc như thế, âu cũng là vì cái sĩ diện ba xu.

Ludwig Beilschmidt, nếu gã chẳng thể ra oai cho chính mình ngắm nhìn, thì gã chí ít cũng phải giữ đủ sự hoành tráng uy vệ khi được kẻ khác diện kiến.

Chí ít, trong mắt của kẻ khác, gã nhất định phải đứng vững ở một vị trí cao trong bất cứ hoàn cảnh nào, và dẫu thời khắc có hỉ hố ái nộ thế nào.


.



Lẽo đẽo phía sau nam nhân viên khách sạn, Feliciano Vargas cố gắng điều chỉnh nhịp bước của mình.

Nó có đang đi quá nhanh? Nó nên giảm tốc độ chứ nhỉ?

Nó có đang đi hơi chậm? Nó nên sải dài chân hơn không?

Thằng nhóc người Napoli, nó đang hồi hộp đến bồn chồn.

Những cảm xúc vui vẻ và căng thẳng trộn vào nhau như một mớ hỗn độn. Một mớ hỗn độn, lộn xộn, và đặc quánh ở trong bụng dạ nó lúc này. Như ngậm lấy chút kẹo mạch nha ở trong miệng, từ đầu môi chóp lưỡi, nó cảm thấy mọi thứ đến thật là ngọt ngào; song khắp hàm răng nó, nơi cổ họng nó, lại ứ đầy cái cảm giác lấn cấn, khó chịu, khiến nó không hé miệng, khiến nó không dám ấp úng vì sợ nghẹn. Bởi nó chưa bao giờ được tiếp nhận như thế này, bởi vậy, nó hồi hộp, căng thẳng lắm. Nhưng nó vui.

Nó vui đến nỗi, nó không thể ở yên tại nhà mà phi đến ngay khách sạn của gã từ trước khi đồng hồ kịp điểm bảy giờ.

Nó vui đến nỗi, việc ngồi yên trên cái ghế bành cứng nhắc cũng khiến nó thoải mái như được tắm gội và quẫy mình nơi lộ thiên.

Mím môi cười, nó thích thú đón nhận mọi cảm giác đang ùa về, đang ôm ấp lấy nó, và cả những chuyện sẽ đến với nó, và khiến nó trở nên khát vọng với đời hơn.

Nhưng rồi, trong thoáng chốc, nó lại chột dạ, tự hỏi về tay tổng giám đốc nọ.

Gã đàn ông ấy, rốt cuộc tại sao lại chọn nó? Gã đã đánh giá nó ra sao, trong khi bản thân nó còn chẳng thể nhìn thấu chính mình? Gã thực sự thấy được giá trị của nó sao, trong khi những điều nó làm đều vun trồng từ những cằn cỗi uể oái của ngày? Nó múa hát vào lúc ấy chỉ là cho vui, chứ có nào phải để chứng tỏ với gã rằng nó giá trị đến nhường nao, để rồi gã chọn nó nhỉ? Gã đã thấy nó thế nào? Và trong mắt gã, nó đã trông ra sao?

Feliciano hồi hộp nghĩ về màu mắt tựa đá Topaz của tay tổng giám đốc.

Màu mắt xanh của gã giờ đây đang nhìn đến điều gì, đang hướng đến nơi đâu?

Liệu gã đang ngồi trong phòng, lướt mắt qua hằng ha giấy tờ như một vị tổng giám đốc thực thụ, hay liệu gã đang đi xung quanh buồng, thả ánh nhìn ra ngoài hoàng hôn xa xôi, như một con người luôn sống và làm việc cho nghệ thuật?


Nhưng mà, nói gì thì nói, có vẻ gã cũng không màng lắm đến cuộc hẹn của nó và gã.

Nó cứ tưởng, một kẻ làm ăn chuyên nghiệp như gã, một kẻ có phong thái, có dấp dáng chỉn chu như gã, hẳn phải biết làm gì khi đến giờ hẹn.

Hoặc có thể, nó không giá trị đến mức để gã phải quá bận tâm mà đến gặp cho đúng giờ.


Ngẫm nghĩ một hồi, nó lại hơi buồn.

Bước chân của nó thôi nhanh chậm lung tung; từ từ, chầm chậm, rồi chậm hẳn ở phía sau, nó nhìn xung quanh, cố nén tiếng thờ dài.

Nó không nên hí hửng quá; thằng nhóc người Ý tự nhủ và dặn dò với chính mình như vậy.

Rồi, "Thây kệ," nó thoáng nghĩ nhanh, lấy lại nụ cười trên môi, "miễn mình tin vào chính mình còn được."

Phải vậy, nếu nó có thể nghĩ chính mình giá trị đến như vậy, thì chắc chắn, nó đã có sự tự tin không hề nhỏ chút nào.

Tự tin không hề xấu, vậy nên nó không buồn rầu thêm để làm gì. Để rồi, trong những guồng quay nghĩ suy bên trong máu thịt, nó lại để chính mình được ngã tõm vào những dòng vui tươi của tuổi đời non trẻ.

Cứ tự tin và yêu đời, đấy mới là phong thái của người trẻ tuổi chứ nhỉ?


.


Ludwig Beilschmidt chỉ ra mở cửa khi tay nhân viên khách sạn gõ cửa đến lần thứ ba, và điều này khiến Feliciano trong vô thức trở nên e dè.

Nó tự hỏi, liệu gã có do dự khi mở cửa cho nó, và liệu gã có đang dần nghĩ rằng việc hẹn với nó không hẳn là việc nên làm?

Nó không rõ, và nó muốn hỏi biết nhường nào. Thế nhưng, mỗi khi chạm ánh nhìn đến màu mắt Topaz lạnh lẽo của gã, nó lại thôi, nuốt trọng 'chút kẹo mạch nha' của nó vào trong. Ngọt ngào và dai dẳng, lấn cấn, nó không muốn phải chọn một trong hai để miêu tả về chút kẹo mạch nha của nó, vì gã.


Căn phòng hạng sang của gã, thực sự rất đáng đồng tiền.

Bước vào bên trong và tiến nhanh đến bên cửa sổ, Feliciano không thể ngăn kịp tiếng ngạc nhiên khỏi thoát ra khỏi vòm họng.

"Chúa tôi!" Rầm rì ở trong họng, nó mong gã không nghe thấy tiếng nó òa lên vì cảm thán sự tráng lệ nhạng nhất mà cả đời, có lẽ nó sẽ chẳng bao giờ chạm đến được, "Có thể nhìn thấy thánh đường Santa Maria del Fiore!"

Một căn phòng có nội thất trang trí bằng gỗ, có lớp sơn bóng loáng phủ lên. Có trạm trổ, có điêu khắc ở những góc tủ, chân bàn, cột giường. Tủ nằm đối

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Net